Tóm tắt về xã hội nguyên thủy (XHNT), thời kỳ đầu tiên của loài người và sự tồn tại của XHNT ở Việt Nam. Các giai đoạn và sự kết thúc XHNT như thế nào? Đó là những thông tin trong nội dung của môn học lịch sử lớp 6 mà sắp tới chúng ta sẽ được học. Để hiểu hơn về giai đoạn lịch sử đầu tiên của loài người và tầm ảnh hưởng tới Việt Nam bài viết hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu kỹ hơn nhé.
Xã hội nguyên thủy là gì?
Xã hội nguyên thủy hay còn gọi là công xã thị tộc. Đây là một giai đoạn dài nhất trong lịch sử phát triển con người. Xã hội này đã tồn tại từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất cho đến khi các giai cấp xuất hiện, và phân chia dẫn đến tan rã.
Các giai đoạn của XHNT
Xã hội nguyên thủy trải qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn thị tộc, bộ lạc
Đây là giai đoạn con người dần tiến hóa từ vượn người cổ thành người tinh khôn. Dần dần dân số được tăng lên và họ sống với nhau hình thành thị tộc và bộ lạc
- Thị tộc là những nhóm người sống chung với nhau. họ đều là những người có cùng huyết thống. Trong thị tộc, không phân biệt tư hữu cá nhân, họ cùng nhau săn bắn và hưởng thụ thành quả.
- Bộ lạc: Bộ lạc là nhiều thị tộc sống cùng với nhau trên một vùng rộng lớn. Các thị tộc trong bộ lạc có họ hàng gần gũi, quen thuộc vì họ có chung nguồn gốc tổ tiên với nhau, giúp đỡ nhau trong sinh hoạt.
Giai đoạn của thời đại kim khí
Giai đoạn này đánh dấu cho sự ra đời của công cụ lao động bằng kim loại. Họ biết pha đồng với thiếc, chì, nhôm để trở thành hợp chất đồng thau. Từ đó họ chế tạo ra các công cụ như cuốc, rùi, lưỡi cày. Giai đoạn này đã mở ra cho một thời kỳ mới, tiến bộ hơn thời kỳ đồ đá. Làm cho lao động sản xuất được cải thiện, sản xuất được nhiều hơn.

Giai đoạn xã hội nguyên thủy tan rã
Xã hội nguyên thủy tan rã vào thiên niên kỷ thứ IV TCN. Thời điểm này, con người bắt đầu khai phá ra kim loại và đã tìm ra được cách chế tạo kim loại ứng dụng vào cuộc sống như sử dụng chúng để làm công cụ lao động. Lúc này, khi năng suất lao động tăng lên, dư thừa của cải, lương thực thì đó chính là nguyên nhân phân chia giai cấp, phân biệt giàu và nghèo, tầng lớp xã hội xuất hiện.
Xã hội nguyên thủy tan rã như thế nào?
Bầy người nguyên thủy có đặc điểm là một nhóm gồm năm tới 7 gia đình sống chụm lại với nhau. Khi sinh sông, họ sẽ cử ra một người đứng đầu, gọi là lãnh đạo, người này có nhiệm vụ tập hợp và chỉ huy các thành viên khác.
Trong xã hội nguyên thủy, con người đã bước đầu có sự phân chia công việc theo giới tính nam và nữ khác nhau. Trong đó quy định rõ, người nam sẽ làm những nhiệm vụ có tính chất nặng nhọc hơn như săn thú, kiếm tìm thức ăn trong rừng hoặc dưới biển. Người nữ có nhiệm vụ hái lượm, chăm nom con cái.
Trong xã hội nguyên thủy, tinh thần chung của con người chính là sống đoàn kết, yêu thương và bảo vệ lẫn nhau để cùng chống lại thú dữ, thiên tai.
Sự xuất hiện của người tinh khôn dẫn tới nguyên nhân vì sao xã hội nguyên thủy tan rã:
- Sự phân chia gia đình rạch ròi, cụ thể hơn
- Bớt phụ thuộc vào tự nhiên
- Chất lượng đời sống được cải thiện
Lúc này, sẽ dẫn đến việc mâu thuẫn do phân chia của cải không đều, từ đó khiến cho xã hội nguyên thủy bị phân tan rã.
Hình ảnh xã hội nguyên thủy
Để hiểu rõ hơn và hình dung cụ thể hơn về xã hội nguyên thủy, chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng một vài bức ảnh về xã hội nguyên thủy nhé các bạn.



Tổ chức xã hội nguyên thủy
Tổ chức xã hội nguyên thủy gồm có đời sống vật chất, đời sống xã hội. Cụ thể hơn, về đời sống vật chất, con người luôn cải tiến công cụ thể nâng cao năng suất lao động. Bên cạnh đó, họ biết vào hang động để ở tiện che mưa che nắng, biết mài đá và làm lều để ở. Ngoài ra, họ còn biết trồng trọt, chăn nuôi các loại gia súc gia cầm nhằm cải thiện các bữa ăn của mình.
Tổ chức xã hội trong thời kỳ nguyên thủy này có một đặc điểm đó chính là họ sẽ sống thành từng nhóm và trong nhóm này đều là những người có quan hệ huyết thống với nhau. Chế độ thị tộc mẫu hệ cực kì phổ biến ở giai đoạn này. Họ sống và định cư lâu dài và bầu một người mẹ lớn tuổi làm người đứng đầu.
Bên cạnh đó, họ cũng biết làm đồ trang sức và vẽ trang trí. Đặc biệt, họ cũng có một thủ tục ực kì phổ biến đó chính là thủ tục chôn cất người chết.
Xã hội nguyên thủy ở Việt Nam
Xã hội nguyên thủy ở Việt Nam đã trải qua những giai đoạn theo từng mốc thời gian khác nhau. Theo đó, xã hội nguyên thủy có sự phân hóa rõ rệt. Cụ thể là :
Cách ngày nay 30 – 40 vạn năm, nước ta đã có Người tối cổ sinh sống. Địa điểm phát hiện những dấu tích của người tinh khôn ở Việt Nam gồm có Hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai).. Ở thời kì này, những công cụ sản xuất được ghè đẽo thô sơ và không có hình thù rõ ràng.
Giai đoạn tiếp theo là người tinh khôn Cách ngày thế trên dưới 2 vạn năm, Người tối cổ đã chuyển hóa thành người tinh khôn và công xã thị tộc được hình thành. Địa điểm phát hiện người tinh khôn gồm có Mái đá Ngườm (Thái Nguyên), Sơn Vi (Phú Thọ) và nhiều nơi khác thuộc Sơn La, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An,…Khác với trước, Công cụ sản xuất ở thời điểm này gồm có: Rìu bằng hòn cuội, được ghè đẽo thô sơ, có hình thù rõ ràng.
Cách ngày nay khoảng 6000 – 12000, công xã thị tộc bước vào thời kì phát triển. Ngoài ra, cách ngày nay khoảng 3000 – 4000 năm. Các công cụ bằng đồng xuất hiện, công xã thị tộc bước vào giai đoạn tan rã.
Trên đây là các thông tin mà chúng tôi tổng hợp được và muốn chia sẻ đến bạn để giải thích vấn đề xã hội nguyên thủy là gì? Mong rằng những thông tin trong bài viết sẽ giúp ích được cho bạn trong việc học tốt môn lịch sử lớp 6.











