Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định được biết đến như một vị anh hùng dân tộc giỏi võ nghệ, thông binh thư, ngoài ra ông còn biết đến với tài chỉ huy giỏi, biết trọng dụng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ. Chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu về cuộc đời và những đóng góp to lớn của vị anh hùng này để thấy được vì sao nhân dân và binh sĩ đều yêu mến và tôn kính ông.
Thân thế anh hùng Quảng Ngãi
Tên thật của ông là Trương Công Định, sinh năm 1820 tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ông có cha từng là Hữu thủy Vệ úy ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị – Lãnh binh Trương Cầm.
Trương định sinh ra và lớn lên tại một vùng đất hiếu học, ngay từ nhỏ ông đã là một cậu bé thông minh, hiếu động và đam mê võ nghệ và đặc biệt là ông có tài bắn rất giỏi. Ông đã sớm ý thức được tình yêu quê hương đất nước và xác định phải đánh đuổi giặc, giữ yên bình cho đất nước.
Năm 1844, ông theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông chọn lập nghiệp ở Tân An, sau đó kết hôn với con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Tiền Giang ngày nay) là bà Lê Thị Thưởng. Đến năm 1848, ông đã chiêu mộ những nông dân quanh vùng cùng mình bắt tay khai hoang lập ấp. Năm 1850, ông đứng ra lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công) và được triều đình Huế phong chức Phó quản cơ sau đó thăng chức lên Quản cơ và hàm chánh Lục phẩm. Kể từ đó, Quản Định là cái tên mà nhân dân trong vùng thường gọi ông một cách thân mật.

Thủ lĩnh chống Pháp (1859 – 1864)
Năm 1859, nghe tin Gia Định bị Pháp chiếm Trương Định đã đem nghĩa binh của mình lên đóng quân ở Gia định. Trên phòng tuyến từ Gò Cây Mai đến Thị nghè và các trận đánh ở trung tâm Sài Gòn ông đã liên tục lập nhiều chiến công. Năm 1860 ông đã trở về Gò Công, xây dựng lại lực lượng và được phong chức phó lãnh binh Gia Định.
Năm 1862, ông đã chống lại lệnh của triều đình điều ông về An Giang để ở lại Gò Công cùng nhân dân kháng chiến và được nhân dân yêu mến tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên soái.
Năm 1863, một lần nữa ông trở về Gò Công và khởi binh. Lúc này, tất cả các con rạch dẫn đến nơi ông chiếm đóng đều được cho bố trí pháo đội khiến cho tàu tuần của Pháp bị công phá nặng nề.

Ngày 22/2/1863, từ Sài Gòn, quân địch dưới trướng Chaumont kéo xuống Gò Công., đến sáng ngày 26/2, Trương Định đã bố trí phục kích đánh quân Pháp khi chúng tiến vào Trại cá rồi di chuyển toàn bộ lực lượng ra Quy Nhơn.
Nhưng đến ngày 25/9/1863, Pháp nhận được mật báo và tiếp tục tấn công ra Quy Nhơn, không chịu thua ở đó, nghĩa quân Trương Định dũng cảm chiến đấu và đã thoát khỏi vòng vây của địch. Sau đó ông nhanh chóng dẫn quân trở về Gò Công.
Kể từ đó, Gò Công trở thành địa phận chính để Trương Định mở các trận tấn công Pháp, lấy biệt danh căn cứ là “Đám lá tối trời”. Ông tiếp tục kêu gọi các sĩ phu yêu nước hãy đứng lên góp công góp sức, hiến kế đánh giặc và xây dựng lực lượng lớn mạnh. Một làn sóng kháng chiến đã nổi lên ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ lớn và vùng giáp ranh Biên Hoà để Hưởng ứng lời hiệu triệu của Trương Định.
Ngày 19/8/1864 bình Tây Đại Nguyên Soái sau khi bị thương nặng do địch đuổi bắn, ông đã tự sát dưới lưỡi gươm của mình vì không muốn rơi vào tay giặc. Sau khi ông mất, người vợ thứ của ông là bà Trần Thị Sanh và nhân dân mang ông về thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang an táng rất trọng thể và ông đã được vua Tự Đức truy tặng phẩm hàm. Năm 1871, đền thờ của ông được lập tại quê nhà Tư Cung (Quảng Ngãi). và lập đề thờ tại Tư Cung (Quảng Ngãi) vào năm 1871. Ngày 6/12/1989 Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam đã công nhận Lăng mộ và đền thờ Trương Định là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Đến năm 1995 thì nhà nước đã cho xây tượng đài Trương Định ở Gò Công.
Tuy sự nghiệp cứu nước vẫn chưa thành, nhưng tấm lòng yêu nước, thương dân và tinh thần trung kiên bất khuất của anh hùng dân tộc Trương Định và những cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo luôn là tấm gương sáng và mãi mãi lưu danh cùng non sông đất nước.












