Câu hỏi Xã hội loài người xuất hiện từ khi nào? là câu hỏi mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng đã từng thắc mắc. Bài viết dưới đây sẽ trình bày một cách cụ thể những thông tin về thời gian xuất hiện của loài người, những bằng chứng khoa học về nguồn gốc của loài người và quá trình tiến hóa của loài người ra sao.
Con người xuất hiện ở kỉ nào?
Câu hỏi: Loài người xuất hiện ở kỉ Đệ Tam, Đệ Tứ, Tam Điệp hay Jura?
Trả lời: Loài người xuất hiện ở kỉ Đệ Tứ.
Giải thích:
- Đặc điểm của kỉ Đệ Tam là cây có hoa ngự trị; Phát sinh nhóm linh trưởng, phân hóa chim, thú, côn trùng.
- Đặc điểm của kỉ Tam Điệp (Triat): Đại lục chiếm ưu thế, khí hậu khô. Cây hạt trần ngự trị. Cá xương phát triển, phát sinh chim và thú.
- Đặc điểm ở kỉ Jura: cây hạt trần ngự trị, bò sát cổ ngự trị, phân hóa chim.
- Đặc điểm của kỉ Đệ Tứ: Phát triển phồn thịnh của thực vật hạt kín, sâu bọ và chim thú.
Nhiều thông tin cho rằng con người đã xuất hiện khoảng 200.000 năm trước, thậm chí ở Châu Phi còn có nhiều dấu tích cho thấy con người đã xuất hiện sớm hơn; và những mẫu hóa thạch cổ nhất có niên đại khoảng 160.000 năm trước.
Thời cổ đại, một số học giả lại cho rằng thoạt đầu con người có hình dáng nửa người nửa động vật. Thời trung đại, giáo lý của các tôn giáo giải thích rằng con người do Thượng đế sinh ra. Cho đến giữa thế kỉ XVIII, Cac Linney xếp con người vào cùng hệ thống với thế giới động vật. Từ đó, qua nghiên cứu, các nhà khoa học ngày càng nhận thấy cơ thể của người và lớp động vật có vú, đặc biệt là giống vượn hình người hiện đại như Gibbon, Orangutan, Gorilla, Chimpanzee có rất nhiều nét gần gũi nhau. Khi nghiên cứu quá trình phát triển của bào thai người, ngành phôi thai học đã đi đến kết luận: quá trình hình thành bào thai người là sự “rút ngắn” của hàng triệu năm tiến hóa từ động vật trở thành người.
Bằng chứng khoa học về sự xuất hiện của loài người
Năm 1976, những bằng chứng về nguồn gốc loài người ở thung lũng Omo (Ethiopia) đã được công bố bởi Clark Howell. Đó là những hóa thạch động vật có vú và người Homo Habilis có niên đại khoảng 2.500.000 năm trước.
Năm 1974, di cốt của một cô gái khoảng 20 -30 tuổi đã tìm thấy ở thung lũng Afar ( Ethiopia); và 42 chiếc răng người cùng nguyên bộ hàm với 9 chiếc răng nguyên vẹn cũng đã được Mary Leakey tìm thấy ở Lactol (Tanzania). Theo nhiều người, thời điểm chúng xuất hiện là khoảng 3.700.000 năm trước.

Đến năm 2000, một hóa thạch người cổ đã được phát hiện ở Kenya. Hóa thạch thuộc giống Orrorin tugenensis này được xác định sống cách đây khoảng 6.000.000 năm.
Một phát hiện ở hóa thạch này làm các nhà nghiên cứu phải sửng sốt đó là ngón tay cái có thể cử động về phía đối diện các ngón tay còn lại trên bàn tay.
Và từ đó đến nay cũng đã có rất nhiều những phát hiện khác nhau về các bằng chứng khoa học về sự xuất hiện của loài người.
Quá trình tiến hóa của loài người
Theo những nghiên cứu khoa học, con người xuất hiện từ loài vượn cổ. Quá trình tiến hóa của loài người trải qua 4 giai đoạn chính: vượn người hóa thạch, người vượn hóa thạch (người tối cổ), người cổ và người hiện đại.

→ Vượn người hóa thạch: loài vượn người hóa thạch cổ sống cách đây khoảng 18 triệu năm có tên là Dryopithecus africanus ( hay còn được gọi là Proconsul). Loài này chủ yếu sống trên cây.
→ Người vượn hóa thạch ( Người tối cổ): loài này sống ở cuối thế kỷ Đệ Tam, cách đây khoảng 2-8 triệu năm, có tên là Australopithecus. Loài này có chiều cao 120-140cm, nặng 20-40kg, có hộp sọ 450-750cm3. Chúng đi bằng 2 chân và đã biết sử dụng cành cây, hòn đá, mảnh xương thú để tự vệ và tấn công.
→ Người cổ: là các dạng người thuộc chi Homo, sống cách đây 35.000 – 2.000.000 năm. Người cổ Homo chia làm 3 loại hình cơ bản:
→ Người khéo léo ( Homo Habilis): sống cách đây khoảng 1.600.000 – 2.000.000 năm, cao khoảng 1 -1,5m; nặng 25 -50kg; có hộp sọ 600-800cm3.
→ Người đứng thẳng (Homo Erectus): sống cách đây 35.000 năm – 1.600.000 năm. Người cổ Homop erectus cao khoảng 1.6m, nặng khoảng 60kg, có hộp sọ 900 – 1000 cm3. Họ đã đứng thẳng hơn so với người khéo léo và đã biết dùng lửa.
→ Homo neanderthalensis (người Neanderthal): sống cách đây 200.000-35.000 năm. Họ có chiều cao trung bình khoảng 1.55 – 1.66m, hộp sọ 1400 cm3, xương hàm gần giống với người, có lồi cằm (có thể đã có tiếng nói). Họ sống săn bắn, hái lượm và đã biết dùng lửa thông thạo. Công cụ của họ khá phong phú, chủ yếu được chế tác từ đá silic thành dao sắc, rìu mũi nhọn. Tuy nhiên, người Neanderthal chỉ là 1 nhánh phát triển trong chi Homo chứ không phải là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại, sau đó biến mất nhường chỗ cho người hiện đại.
→ Người hiện đại: Người Cromanhon sống cách đây 35.000 – 50.000 năm, cao 1,8m, nặng 70kg, hộp sọ 1700 cm3. Họ giống hệt người hiện đại ngày nay, chỉ khác là răng to khỏe. Người hiện đại biết chế tạo và dùng đá, xương để làm công cụ như rìu có lỗ để tra cán, lao nhọn, móc câu bằng xương, kim khâu,…Họ sống thành bộ lạc và đã có nền văn hóa, có mầm mống mỹ thuật, tôn giáo.

Qua quá trình phát triển, loài người đã phân hóa thành 3 chủng tộc, phân bố khắp các châu lục như sau:
- Chủng tộc da vàng (chủ yếu sống ở Châu Á)
- Chủng tộc da trắng (chủ yếu sống ở Châu Âu)
- Chủng tộc da đen (chủ yếu sống ở Châu Phi)
Hy vọng bài viết này đã giúp bạn giải đáp những thắc mắc về nguồn gốc xuất hiện của loài người. Cảm ơn bạn đã đọc đã quan tâm.











